Các bài báo (Les articles)

Công Binh – Đêm dài Đông Dương: HÀNH TRÌNH LÊN ÁN CHẾ ĐỘ THUỘC ĐỊA

Công Binh – Đêm dài Đông Dương:

HÀNH TRÌNH LÊN ÁN CHẾ ĐỘ THUỘC ĐỊA
PARCOURS D’UN PROCES DU COLONIALISME

Bản gốc / texte original @ Nguyễn thị Nam

pour la revue SOLIDARITE – ESSENCES VIETNAMIENNES N°35

1

Năm 1980 trong khi chuẩn bị làm hai bộ phim đầu tay Long Vân Khánh Hội và Đế chế tàn vụn, đạo diễn Việt Kiều Pháp Lê Lâm tìm một người đàn ông Việt đứng tuổi định cư ở Pháp đóng vai du kích. Ông đã gặp và mời được một Việt Kiều sống ở Pháp từ đầu Đại chiến Thế giới thứ hai. Ông này giữ kín quá khứ của mình, rất lâu sau đó mới thổ lộ với đạo diễn rằng trước đây mình là lính thợ O.N.S (Ouvriers non spécialisés). Ông ấy cảm thấy hổ thẹn và e dè không muốn cho ai biết về quá khứ đó và còn sợ rằng điều này có ảnh hưởng xấu ở Việt Nam.

Có lẽ ý tưởng của bộ phim thứ ba đề tài Đông Dương của Lê Lâm được nhen nhóm từ đó.
Năm 1981 khi Long Vân Khánh Hội được chiếu ở LHP Cannes (Pháp), Lê Lâm đã thông báo ông sẽ làm bộ ba phim đề tài Đông Dương. Phim thứ nhất, Đế chế tàn vụn (Poussières d’ Empire) hoàn thành năm 1982; phim thứ hai 20 đêm và một ngày mưa (20 nuits et un jour de pluie – 2006) và phim thứ ba Công Binh – Đêm dài Đông Dương (Công Binh, La longue nuit indochinoise) đầu năm 2013.

Lê Lâm kể: “Năm 2004 ông Nicolas Sarkozy lúc ấy là Bộ trưởng Nội vụ trong chính phủ của Tổng thống Chirac đã đề xuất chính sách giảng dạy trong sách giáo khoa về đóng góp tích cực và tốt đẹp của chủ nghĩa thực dân Pháp ở các thuộc địa. Sự kiệnđó đã khiến nhân dân Pháp biểu tình phản đối dữ dội, bản thân tôi cũng bức xúc.

Thời điểm đó tôi đã quay xong 20 đêm và một ngày mưa và bắt đầu tìm một đề tài xứng đáng để phản đối chính sách đó của ông Chirac. Cuối cùng tôi đã chọn sự kiện lịch sử lính thợ Đông Dương để dựng thành phim. Tôi thấy ngay đây là câu trả lời thích đáng cho Chủ nghĩa thực dân mới của chính phủ Sarkozy”.

Năm 2009, cuốn sách Immigrés de force, les travailleurs indochinois en France (Nhập cư cưỡng bức, những người lao động Đông Dương ở Pháp) của nhà báo Pháp Pierre Daum xuất bản đã làm rung động dư luận Pháp. Một cuộc vận động đã bắt đầu nhằm thưa nhận ký ức về những người O.N.S. Các thành phố Arles, Miramas, Sorgue… tổ chức những buổi ghi công lính thợ Việt Nam (thực ra thì công đầu của sự việc này thuộc về nhà sử học Việt Kiều Trần Nữ Liêm Khê năm 1989 đã làm luận án Tiến sĩ về O.N.S tại Đại học Sorbonne. Sau này Lê Lâm nói rằng “tôi đã thực sự hiểu rõ các biến cố lịch sử nhờ luận án này”. Theo ông thì “Năm 2009 luận án lịch sử này đã bị sao chép một cách gian lận bởi một nhà báo Pháp, Pierre Daum viết thành cuốn sách được xuất bản bên Pháp”).

Công Binh – Đêm dài Đông Dương là một phim truyện – tài liệu, kể cho khán giả về thân phận bị cưỡng bức, bị đọa đầy của lính thợ hồi ấy.

Đó là vào năm 1939 khi lao động Pháp ở chính quốc phải ra mặt trận, thiếu nhân công nên chính phủ thuộc địa ở Việt Nam đã cưỡng bức hai vạn thanh niên, chủ yếu là con em nông dân, sang Pháp thế chỗ.

Đạo diễn đã dùng hai mươi nhân chứng “lính thợ” trước đây, mười người sống ở Việt Nam, mười người sống ở Pháp với việc ghi hình trực tiếp và thu thanh đồng bộ cho bộ phim này. Họ đều đã từ chín mươi tuổi trở lên.

Các nhân chứng kế cho khán giả biết rằng hồi đó họ không biết gì, họ bị ép buộc phải đi. Nhà có ba con trai thì bắt một, chín con trai thì bắt ba. Nếu không đi cha mẹ sẽ bị bỏ tù.

Một nhân chứng mới mười bảy tuổi rưỡi đi thay cho các anh đã có vợ con. Có người lúc ấy mới mười sáu tuổi. Nhân chứng nói rằng: “Pháp tuyên truyền là ở nước Pháp sướng như tiên”… “Họ nói là nước mẹ gặp khó khăn phải đi giúp đỡ”.

Người ta bảo họ ký (hoặc điểm chỉ) vào một tờ giấy để nhận được mười đồng, phát cho mỗi người một chiếc áo len mỏng manh xô lệch (để chống với cái rét dưới không độ!). Họ biết rằng đi Pháp sẽ không bao giờ được trở về.

Xuống tàu thủy họ bị nhồi nhét chật chội trong hầm tối, thiếu khí thở, ai trèo lên boong sẽ bị đánh. Ăn không đủ no, ăn vào lại nôn ọe hết, họ lấy quần áo ra lau, đến nơi chẳng còn gì. Họ bị cư xử tệ hơn súc vật “bò còn được ở bên trên chúng tôi cho thoáng”.

Sau bốn mươi ngày vật vã cực khổ dưới hầm, họ đến cảng Marseille. Ban đầu có người có cảm giác dễ chịu khi thấy người Tây ở đây không quát tháo họ như ở nhà; lần đầu thấy ánh sáng điện sướng quá, thấy đẹp quá.

Người ta đưa họ tới trại Mazarque, ở khu nhà định dùng dể nhốt tù binh Đức. Mùa đông lạnh lẽo, không có nước nóng, nước trong vòi đóng băng, không có nhà vệ sinh, bị kiết lị không có bác sĩ, không có thuốc, nhiều người bị chết. Sau ba tuần lễ như thế, khám sức khỏe xong họ được đưa tới Sorgue, St.Chamas… làm thuốc súng, nhồi thuốc súng, làm máy khoan, máy tiện, bào…

Một nhân chứng kể lại: “Chúng tôi làm ở hãng thuốc súng. 2000 người Việt Nam và 5000 phụ nữ Pháp, nhồi thuốc súng vào đạn, hít phải, hầu hết bị bệnh gan, nhiều người bị đau phổi, chết nhiều”.
Họ đến được sáu tháng thì quân Đức chiếm nhà máy, họ thành tù binh, bị bắt đi bộ sang Đức. Đến Đức rồi quay lại. Ông giám đốc người Pháp bị chết đột ngột, không ai lo cho họ, mỗi ngày mỗi người được phát một chiếc bánh quy, đói triền miên.

Một số bị nhốt ở Bordeaux trong khu trại xây cho “lính thợ”. Vẫn là cuộc sống bị đọa đầy, không có củi phải tháo giường làm chất đốt.

Có những lính thợ hồi ở nhà đã được đi học, giờ tranh thủ dạy chữ cho những anh em mù chữ (đa số). “Hai năm thì họ viết được”.

Rồi người ta chuyển họ đi trồng nho, đi làm muối. Làm muối không được phát giày đầy đủ, muối ăn chân, họ phải bỏ quần áo ra bọc chân. Họ làm việc không có lương.

Cơ quan M.O.I (main d’oeuvre indigène – lao động bản xứ) phát cho họ mỗi ngày một quan (chỉ đủ mua một bánh xà phòng) trong khi những người Pháp, Ý được trả gấp hai mươi lần.

Họ bị sống theo quy chế nhà binh, vì vậy tác giả của phim đã dùng chữ Công Binh để chỉ những lính thợ này.

Họ phải lao động và bị cư xử như tù khổ sai, như nô lệ (bởi vậy khi giới thiệu bộ phim này, các báo Pháp luôn dùng các từ như: forcat, esclavage, condamné de la terre chỉ thân phận Công Binh)
Có những người phải vào rừng cắt gỗ đốt than (nước Pháp thiếu xăng), mỗi ngày một khối rưỡi một người.

Được mấy trăm gram bánh mỗi ngày không đủ no, họ phải lấy đọt non của cỏ bò nấu lên ăn.
Quản lý phát đồ cho Công Binh thì sĩ quan Pháp lấy hết. Thức ăn của một tuần chỉ đủ ăn hai ngày mà cũng luôn bị tước đoạt.

Những người làm nho đói thì lấy lúa mì về bọc chăn đập rồi nấu lên mà húp, lấy vỏ khoai tây (người ta bỏ đi) về rửa rồi nấu ăn. Kho hết gạo, họ chỉ được nhận lạng rưỡi gạo mỗi ngày.
Sau chiến tranh Pháp thiếu lương thực nên người ta chuyển họ đến Camargue làm lúa. Trước đó ở đây người ta gieo hạt nên không có kết quả. Công Binh áp dụng cách trồng lúa của người Việt gieo, cấy,… nên mấy năm liền được mùa.

Đói, khổ, lao động nặng nhọc lại thêm nỗi nhớ nhà, không có tin tức gì của gia đình, có người 14 năm không có tin nhà, nhiều lúc nằm khóc ròng.

Năm 1941, khi chính quyền Pháp thua trận và biết là Công Binh không thể hồi hương được, Công Binh Hoàng Khoa Khôi đã tổ chức ra báo Công Binh và là một biên tập viên tích cực phát không cho anh em trong trại, dùng báo đề tuyên truyền chính trị và dạy tiếng Pháp giúp anh em Công Binh giao tiếp dễ hơn.

Hai ông Nguyễn Được và Hoàng Công Trí học kỹ sư, vào trại thấy cảnh khốn cùng đã dạy chính trị cho Công Binh và lập chi bộ Đệ Tứ Quốc tế. Công Binh theo Đệ tứ chỉ với mục đích đấu tranh cho độc lập của Việt Nam. Có những Công Binh vì đấu tranh mà bị nhốt vào trại tù (dành cho Công Binh).

Bị ốm, vào nhà thương dành cho người Việt thì bị bác sĩ Pháp lấy hết thuốc thang, thức ăn. Có Công Binh ốm phải bới đống rác tìm cái ăn, bị bệnh mà chết.

Vào cuối 1944, quân Đồng Minh đánh mạnh, anh em Công Binh đưa yêu cầu giải phóng VN.
Họ biết tin ở nhà có Cách mạng Tháng Tám, biết có cờ đỏ sao vàng. Anh em làm cờ Tổ quốc những không biết đặt sao ở đâu, cứ suy theo cờ Liên Xô, Trung Quốc nên đặt sao ở góc cờ. Ban đầu bị cấm treo cờ Việt Nam, sau đó thương lượng mãi cũng được treo, nhưng có nơi cảnh sát Pháp tịch thu cờ, người treo cờ bị đánh.

Đại đa số Công Binh theo Bác Hồ. Họ biểu tình, đòi về nước nhưng không có tàu để về. Chính quyền Pháp sợ Công Binh hồi hương sẽ theo Cách mạng chống lại họ (mà có thế).

Công Binh biểu tình đòi độc lập cho Việt Nam.
Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau. Họ đi đón Bác Hồ. Công Binh Nguyễn Văn Nhận (vốn là con quan, có học) năm 1946 đi học nghề ở Paris đã là người quay những thước phim lịch sử quý giá Hồ Chủ tịch và đại biểu chính phủ sang Pháp, phần đón đoàn ở Paris. Ông kể rằng ông và mọi người rất xúc động khi nhìn cờ đỏ sao vàng của Việt Nam tung bay ngang hàng với cờ của Pháp ở sân bay, đánh giá: “Bác Hồ qua là sự đổi đời”. Tỉnh Marseille đón Cụ Hồ thăm Công Binh. Gặp Chủ tịch, họ bày tỏ nguyện vọng muốn về Việt Nam. Bác nói đồng bào muốn về Việt Nam phải có quà, quà không phải là tiền, là quần áo mà phải có nghề để về kiến thiết quốc gia. Thế là Công Binh đi học nghề: người vào làm ở hãng Peugeot, người làm ở xưởng làm tàu bọc thép. Công Binh Lê Bá Đảng đi học theo năng khiếu và ham thích của mình đã trở thành danh họa Việt Nam nổi tiếng thế giới.

Đến gặp Công Binh ở Mazarque, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc diễn văn, nói về Hiệp định Sơ bộ. Bác còn nói: “Các bạn có nghĩa vụ lao động và làm giàu đất nước”.

Trong phim có trích tiếng Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến.

Phụ nữ Việt Nam ở Pháp gây quỹ vàng ủng hộ kháng chiến.

Công Binh lúc ấy có người theo Đệ Tam quốc tế, có người theo Đệ Tứ, có lúc hai bên đã đánh nhau, có người bị chết.

Một vài công binh kể lại cuộc hồi hương của mình.

Một Công Binh hồi hương năm 1952 thì mẹ và con đã bị Pháp bắn chết, ông ấy tham gia kháng chiến, có lúc bị địch bắt, bị tra khảo. Một Công Binh người Hà Nội, trở về cuối tháng 12 năm 1949 móc nối với những người hoạt động bí mật ở nội thành chống thực dân Pháp. Có người khuyên ông nhờ vỏ bọc O.N.S nhận làm việc cho Pháp đề làm nội gián cho ta.

Có Công Binh về làng bị coi như kẻ thù vì đã “theo Pháp”. Bố của Công Binh Nguyễn Văn Nhận bị Việt Minh bắt và chết trong tù.

Các Công Binh không được nhận lương hưu của Chính phủ Pháp. Khi phu nhân Tổng thống Mitterrand thăm Việt Nam, có người nêu vấn đề này thì Bộ trưởng Ngân sách Pháp trả lời rằng đã đền bù cho M.O.I rồi. Trong thực tế, Công Binh không ai được nhận một xu.

Những công Binh ở lại Pháp thì giấu kín quá khứ của họ đến mức vợ con họ cũng không biết, cũng chưa bao giờ nghe nói gì về Công Binh – lính thợ O.N.S.
Tất cả những điều trên do các nhân chứng Công Binh kể lại.
Tên phim đã đi từ cụ thể: Công Binh, thể hiện những khổ cực, oan ức của những con người cụ thể nạn nhân của chế độ thuộc địa Pháp, đi đến ý nghĩa khái quát “Đêm dài Đông Dương”, đêm dài của một thế kỷ Đông Dương bị chế độ thuộc địa Pháp thống trị.

Tài liệu, tư liệu của quá khứ không có gì chỉ còn một số nhân chứng cao tuổi (khi phim quay xong đã có năm cụ từ trần và một cụ bị liệt vì tai biến mạch máu não).

Đạo diễn Lê Lâm cũng không chủ trương làm phim tài liệu mà làm theo phong cách phim truyện trong khi vẫn bảo đảm tính chân thực và khách quan. Ông đã tìm ra một cách kể chuyện sáng tạo, sinh động, xúc tích và truyền cảm.

Suốt chiều dài bộ phim 1 giờ 56 phút không có lời bình của tác giả.

Đạo diễn sử dụng các màn rối nước vừa để nói lên ý tứ của đoạn phim, vừa như có vai trò dẫn chuyện. Ông đã vẽ mẫu đặt làm mười bốn con rối. Mở đầu phim tên phim được đặt trên nền hình ảnh mặt nước ở thủy đình trước cửa chùa Thày (Hà Nội). Bảng chữ đề “Phim của Lê Lâm” hiện lên trên nền hình khán giả ngồi quanh hồ. Rồi phim bắt đầu nói về thanh niên Công Binh Đông Dương. Hai tiếng đồng hồ sau, câu chuyện phim kết thúc với màn rối múa Rồng – Tiên vẫn tại chùa Thày. Ngồi giữa khán giả là hai Công Binh trẻ. Kết thúc, phim để cho khán giả trong đó có Công Binh, đi vào chùa Thày – tượng trưng cho Ngôi nhà Việt, xuyên qua màn tre như một sự tái sinh để Công Binh như được sống một cuộc đời mới con cháu đất Việt chứ không phải là người phản quốc đi lính cho Tây. Họ được trở về giữa lòng dân tộc.

Chọn rối nước, loại hình bắt nguồn và gắn bó với đời sống nông dân lúa nước (xuất thân của đa số Công Binh), tác giả phim còn muốn nói các Công Binh như các con rối bị Pháp điều khiển. Họ không chủ động được với cuộc đời của họ.

Các màn múa rối được sử dụng vừa phải, chen kẽ, xuất hiện với vai trò độc lập. Một số cảnh như: người truyền lệnh hô phải đi, nếu trốn tránh sẽ bị tù, lúc ấy mấy con rối – bà mẹ khóc lóc kêu “khổ quá”; cảnh một con rối nói: “nước mẹ gặp khó khăn phải đi giúp đỡ” – con rối khác hỏi lại: “Mình không phải con Rồng, cháu Tiên à?” Khi Pháp đầu hàng Đức, rối bảo nhau: “Nước mẹ của ta thua trận rồi – Tưởng nó cai trị mình thì nó phải mạnh chứ.” Có cảnh rối thể hiện Pétain đầu hàng Hitler. Rồi cảnh cầm cờ đỏ sao vàng; cảnh các con rối hỏi về số phận các con mình, một bà bảo “sắp được hồi hương”… Nhóm rối nước như một nhân vật trong phim.

Đạo diễn Lê Lâm nói về kế hoạch làm ba bộ phim đề tài Đông Dương: “Lý do chính là để tìm hiểu tại sao một cường quốc văn minh, tiến bộ, mẹ đẻ của dân chủ và nhân quyền quốc tế lại muốn xâm chiếm, đô hộ, thống trị, khai thác bóc lột, nô lệ hóa các nước trên thế giới không thuộc châu Âu từ thế kỷ 18 đến gần giữa thế kỷ 20”. Trong phim ông đã đưa những ý kiến phê phán chủ nghĩa thực dân thông qua việc để một cô gái lai da đen người đảo Antilles là cháu Công Binh Hoàng Khoa Khôi (nhân chứng, đã từ trần năm 2008 – ông là người Đệ tứ Quốc tế tích cực lôi kéo anh em Công Binh chống Pháp đòi độc lập cho Việt Nam) đọc cuốn sách của ông viết kể lại đời sống Công Binh thời đó. Xen kẽ giữa những đoạn miêu tả cuộc sống Công Binh thời đó; cô gái đọc những trích đoạn trong hai cuốn sách: Discours Contre le Colonianisme (Phát biểu chống chủ nghĩa thực dân) của nhà văn, nhà thơ kiêm nhà triết học Aimée Césaire – người đảo Antilles, sau khi chết được tôn vinh đưa vào điện Panthéon và cuốn Les damnés de la terre (Những người khốn khổ trên thế giới) của Franz Fanon cũng là người đảo Antilles – là nhà văn, nhà triết học, bác sĩ tâm lý nổi tiếng chống chủ nghĩa thực dân Pháp. Những trích đoạn này đạt hiệu quả phê phán khách quan và đã được khẳng định, vừa tham gia vào việc dẫn dắt ý tưởng của phim.

Phép ẩn dụ, ngoài những màn rối nước cũng như cảnh đầu và cuối phim ở chùa Thày tác giả còn dùng hình ảnh con tàu chao đảo trên sóng nước và bị gãy đôi khi nước Pháp thua trận…

Vì làm theo phong cách phim truyện, khi các nhân chứng xuất hiện, trên màn ảnh không có thuyết minh hoặc bảng chữ giới thiệu nhân vật. Trong hai mươi nhân chứng đó người ta chỉ có thể nhận ra một người, đó là Công Binh Nguyễn Văn Nhận – người đã quay cuốn phim cuộc đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Paris dự Hội nghị Fontainebleau. Cuối phim là những bức ảnh nhân chứng Công Binh, mỗi người hai hình một chụp thẳng, một chụp nghiêng, ở dưới có ghi ký hiệu bằng chữ cái và số tuổi lúc ghi hình, ví dụ: ZAG263-96 tuổi; ZAT1253-93 tuổi; ZAJ-94 tuổi; v.v. Những hình ảnh giống như của cảnh sát chụp tội phạm gợi lại một sự thật xót xa là bọn Tây không dùng tên Việt của Công Binh vì coi họ là mọi rợ, như người tù, như nô lệ… Các Công Binh thuộc làu số đăng ký của mình, nhớ mãi đến lúc đã ngoài 90 tuổi.

Đạo diễn không nêu tên thật Công Binh vì còn muốn coi họ “như những người anh hùng vô danh và vì họ đoàn kết với nhau nên thắng được thực dân ngay trên đất Pháp”. Và đến tận bây giờ ông vẫn muốn an toàn cho họ vì “lý do chính trị để tránh gây trở ngại cho con cháu họ ở trong và ngoài nước”.

Các nhân chứng ban đầu rất e ngại nói ra quá khứ của mình. Khi biết rõ ý đồ của đạo diễn và lại được giao tiếp bằng tiếng Việt, họ đã trao cho ông tất cả, như ông có thể cất đi cho họ gánh nặng mà họ đã phải mang suốt bảy mươi năm qua. Đạo diễn nói: “Tôi đã chuẩn bị cho họ như với các nhân vật của phim truyện. Họ phải kể cho tôi cái đã xảy ra trong đầu họ ở thời kỳ đó. Tôi không muốn rằng sự phán xét của họ ngày nay tham dự vào câu chuyện của họ”.

Những hình ảnh miêu tả đời sống Công Binh đạo diễn cho con cháu họ mặc đồng phục thể hiện.
Cuối phim có cảnh cô gái lai cháu Công Binh Hoàng Khoa Khôi lên xe taxi và tình cờ biết được người lái taxi là con trai ông Nguyễn Được, đồng nghiệp của ông Khôi. Họ nhận ra họ là con là cháu của những người gốc Việt đã từng là bạn của nhau.

Đoạn này được quay thực. Anh lái xe chỉ được bảo đi đón một cô gái. Còn cô gái được dặn hỏi lái xe: “Anh có phải là người Đông Dương không?”. Phần thoại tiếp theo là tự nhiên. Anh lái xe trả lời: “Tôi là người Việt”. (cái từ “Đông Dương” là của giới thực dân, còn tồn tại bên Pháp dùng khi họ muốn khinh bỉ người Việt ở Pháp). Cuộc gặp gỡ tình cờ mà có tính ẩn dụ của hai nhân vật “người thực việc thực” thêm tính xác thực cho phim.

Trong phim ngoài đoạn trích Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến thì khi đưa tin về Cách mạng Tháng Tám khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, đạo diễn đã đưa đoạn trích lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, tiếp đó là bài Bao chiến sĩ anh hùng: “Thề phục quốc, tiến lên Việt Nam…”

Cũng với việc tận dụng văn hóa Việt Nam, khi muốn miêu tả cuộc sống khổ cực của người dân Việt Nam, Lê Lâm đã dùng trích đoạn phim Chị Dậu của đạo diễn Phạm Văn Khoa. Ông đặt Lê Cát Trọng Lý viết sáu bài hát cho phim. Bài Hương lạc với những nét phảng phất chầu văn và ca từ “Em sinh ra lạc thời. Em đi hoang lạc đàn. Em giam thân lạc loài…” vang lên khi màn hình xuất hiện ảnh các nhân chứng Công Binh với ký hiệu như số tù tạo hiệu quả dồn nén xúc cảm của người xem; rồi các bài hát buồn về giấc mơ, về con thuyền cứ bồng bềnh, ám ảnh…

Quay 150 giờ nháp để dựng một giờ năm mươi sáu phút phim, Lê Lâm đã hoàn thành Công binh – Đêm dài Đông Dương, một tác phẩm nghệ thuật về một sự thật lịch sử bị lãng quên là thân phận khốn khổ và bị bỏ quên của hai vạn thanh niên Việt Nam phục vụ nước Pháp nhưng bị nước Pháp ngược đãi, bị các ông chủ bù nhìn Pháp bóc lột, bị quân đội Hittle hành hạ vì nghĩ họ là lính đánh thuê và ở ngay trên quê hương mình thì có người bị coi là theo giặc. Lê Lâm kể rằng ông đã khóc khi xem kiểm tra 150 giờ quay nháp đó (và khi kể lại chuyện này ở cuộc tọa đàm do Trung tâm Văn hóa Pháp (Hà Nội) tổ chức, đạo diễn đã khóc nghẹn ngào).

Trong những thước phim nháp, đạo diễn ghi lại những cuộc phỏng vấn:
-24 nhân chứng Công Binh
– Nhà sử học Đào Hùng, chuyên môn về lịch sử Đông Dương (người hát “Maréchal nous voila” trong phim)
– Alain Ruscio nhà sử học Pháp, chuyên môn về lịch sử Việt Nam.
– 4 cán bộ cao cấp người Pháp quản lý các trại lính thợ bên Pháp từ 1942 đến 1945.
– 2 chủ trại con cháu gia đình Pháp trồng lúa gạo ở vùng Camargue đã sử dụng Công Binh Việt Nam hồi ấy
– Nhân chứng Việt Kiều trong đảng Đệ tứ Việt Nam bên Pháp có liên quan đến lính thợ 1939-1940
– Nhân chứng người Pháp (vô danh) có quen biết lính thợ khi họ còn trẻ
– Con, cháu lính thợ ở Pháp và trong nước

Những cố gắng, công sức và tài năng của đạo diễn đã được ghi nhận trong giới chuyên môn, trong dư luận khán giả, trên các báo chí ở Pháp và nhiều nước. Công Binh – Đêm dài Đông Dương đã đoạt giải Licorne d’Or (Kỳ lân Vàng) của LHP quốc tế Amiens (Pháp), giải Nhất của Hội đồng Giám khảo LHP Lịch sử Pessac (Pháp) năm 2012, được đề cử tranh giải tại các LHP Amsterdam (Hà Lan) lần thứ 25 và LHP Hồng Kông lần thứ 37.

Lê Lâm đã được Thượng nghị viện Pháp mời thuyết trình một buổi; Hôm ấy mười nghị sĩ đã chất vấn vì sao nước Pháp không trả lương bổng cho O.N.S.

Phim Công Binh – Đêm dài Đông Dương đã được chiếu 300 buổi ở các vùng khắp nước Pháp, buổi nào đạo diễn cũng dự, tọa đàm với khán giả, và ông nhận thấy buổi nào cũng có con cháu Công Binh đến xem (Ba buổi chiếu tại Trung tâm Văn hóa Pháp có anh Marcel, con lai của một Công Binh, về hưu sống ở Hà Nội đến xem cả ba. Buổi đầu tiên có tọa đàm với đạo diễn, con, cháu Công Binh ở các tỉnh, có người ở Đà Nẵng – biết tin đã tự bỏ tiền ra dự. Có người đề đạt nguyện vọng muốn đưa xương cốt của ông mình về nước).

Xuất phát từ thực tế “tới ngày nay, tất cả các tác phẩm điện ảnh nói về Đông Dương đều dưới góc nhìn của phương Tây, chưa có phim nào ở góc nhìn của người bị đô hộ”, Lê Lâm đã quyết tâm thực hiện bộ phim, vượt qua nhiều khó khăn để hoàn thành phim, như, kinh phí ít ỏi thiếu thốn, chạy đua với thời gian khi các Công Binh đều quá già rồi.

Ông coi việc làm bộ phim này như trách nhiệm của mình “với lịch sử và thế hệ sau… Qua đây tôi muốn giành lại nhân phẩm và danh dự con người cho các bác Công Binh, cho con cháu họ ở Pháp và ở trong nước”.

Chính vì tâm nguyện đó mà đạo diễn Lê Lâm mong muốn bộ phim này được chiếu rộng rãi cho khán giả Việt Nam.

Phim có thể trở thành di sản lịch sử khi được chọn vào bảo tàng điện ảnh. Ba bộ phim về Đông Dương đã được đưa vào Viện Phim Pháp, trường Đại học Yale và Đại học Havard (Hoa Kỳ). Những bộ phim ấy đã thành di sản lịch sử.

Đạo diễn Lê Lâm đã làm hơn cả trách nhiệm của một nghệ sĩ. Công Binh – Đêm dài Đông Dương của ông sẽ tiếp tục hành trình lên án chế độ thực dân và chống lại sự lãng quên lịch sử về những O.N.S ấy.

Nguyễn Thị Nam

* * * *
Sinh năm 1948 tại Hải Phòng, năm 1966 giành được học bổng tại trường Bách Khoa Paris, Lê Lâm đi du học, sau đó định cư ở Pháp.
Tốt nghiệp đại học rồi, ông còn theo học ở trường Mỹ thuật Paris (L’ École des beaux Arts de Paris), là người đồng sáng lập Nhà hát Epée de Bois ở Cartoucherie de Vincennes. Ông đã được Chính phủ Pháp tặng Huân chương Hiệp sĩ về Văn học – nghệ thuật, Bằng của Viện Hàn lâm Bảo vệ và quyền dân sự của Nga.

Những ngày đầu theo nghề điện ảnh, Lê Lâm là phụ tá cho các đạo diễn Pháp nổi tiếng như Claude Miller, Jean Pierre Mocky, Frank Cassette… trong năm năm.

Năm 1980, Lê Lâm làm bộ phim đầu tay Long Vân Khánh Hội (Rencontre des nuagés et du dragon). Phim đoạt giải thưởng Lớn ở LHP Lille 1981, được đề cử tranh giải ở các liên hoan phim : Cannes (nhưng LHP này không có giải vàng cho phim ngắn chỉ có 43 phút),Venise 1981, Amsterdam (1982), Berlin. Long Vân Khánh Hội là phim đầu tiên của một đạo diễn kiêm tác giả kịch bản gốc Việt, với diễn viên Việt kiều và Pháp, nói hai ngôn ngữ Việt – Pháp, bối cảnh Việt Nam nhưng quay hoàn toàn ở Pháp kể về ba mươi năm chiến tranh ở Việt Nam. Chiếu ở LHP Cannes, Long Vân Khánh Hội gây ấn tượng mạnh trong dư luận Pháp và quốc tế vì ngôn ngữ hiện đại, trừu tượng không hiện thực với nhiều ẩn dụ chính trị. Các báo lớn của Pháp như Libération, Cahiers du Cinéma (chuyên san về điện ảnh), Tạp chí Điện ảnh, Le Monde gọi đó là “hiện tượng” của Cannes.

Năm 1982, Lê Lâm làm phim Đế chế tàn vụn quay ở Việt Nam, gợi lên yếu tố nước, tình mẫu tử, phụ nữ, số 4, hình vuông và người mẹ… Đạo diễn mời nhạc sĩ Nguyễn Thiện Đạo viết nhạc hiện đại dựa trên bốn câu thơ trích từ Chinh phụ ngâm. Phim được đề cử tranh giải chính ở Venise, LHP Los Angeles, Luân Đôn, New York, Montréal, Sydney và Berlin.

Phim thứ hai của bộ ba phim Đông Dương 20 đêm và một ngày mưa gợi lên yếu tố lửa, mối quan hệ với người cha, tình dục nữ, núi non, hình tam giác, số 3. Phim được quay năm 2004 dưới chân núi lửa Merapi ở đảo Java (Indonesia).

Phim Công Binh – Đêm dài Đông Dương gợi lên yếu tố đất, chiều ngang, chiều dọc, hình tròn, tập thể, cộng đồng và dân tộc Việt. Vì đề tài và thời gian thúc ép (vì các nhân chứng Công Binh đều đã già) dù thuộc thể loại phim tài liệu nhưng đã được làm với ý tưởng và ngôn ngữ phim truyện. Liên hoan phim Amiens có chương trình chiếu cả bốn bộ phim của Lê Lâm.

Nhà phê bình Serge Daney dùng các từ “bien artiste’’ (nghệ sĩ hoàn hảo) vì ông đã làm cả sân khấu và mỹ thuật” và là nghệ sĩ cực kỳ có thiên bẩm” (artiste ultradoué) và “hiếm” khi nói về Lê Lâm.

Cả ba bộ phim, thuộc điện ảnh Pháp nhưng đều làm với ngôn ngữ Việt.

Ngoài ra Lê Lâm còn làm nhiều phim truyền hình cho các đài Pháp và Nga, viết kịch bản và làm cố vấn kỹ thuật và giám đốc nghệ thuật.

Ông là giảng viên về kịch bản và đạo diễn phim ở trường điện ảnh danh tiếng IDHEC và bây giờ là trường La Femis.

Rời Việt Nam từ năm 1966 nhưng Lê Lâm gắn bó với và làm những việc có thể làm cho điện ảnh Việt Nam. Ông đã “mượn trộm” bộ phim Chom và Sa của đạo diễn Phạm Kỳ Nam ở Đại sứ quán Việt Nam tại Paris để công chiếu tại LHP Nantes năm 1980 rồi chính ông cầm micro dịch trực tiếp ra tiếng Pháp cho khán giả. Đó là phim Việt Nam đầu tiên được chiếu tại một LHP quốc tế phương Tây.
Sau khi về nước quay Đế chế tàn vụn, Lê Lâm đã khuyên Ban tổ chức LHP Nantes tuyển lựa phim Chị Dậu của đạo diễn Phạm Văn Khoa, giành được Huy chương Vàng đầu tiên của Việt Nam tại Pháp năm 1984.

Năm 2015 ông tự tuyển lựa phim Lạc giới của Phi Tiến Sơn dự LHP Ficat Tours (Pháp).

Năm 2014, Lê Lâm làm Chủ tịch BGK phim ngắn của LHP quốc tế Hà Nội theo lời mời của Bộ Văn hóa và Cục điện ảnh, năm 2016 làm thành viên giám khảo giải Cánh Diều 2015 theo lời mời của Hội Điện ảnh Việt Nam.

Ông đã giảng dạy cho bốn lớp nâng cao (Masterclass) của Hội Điện ảnh và được đông đảo sinh viên của hai trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đến dự học.

Ông có đề nghị được về nước dạy một khóa tại hai trường điện ảnh áp dụng phương pháp giảng dạy như ở trường La Femis (ông có kho tư liệu khổng lồ là một nghìn đĩa DVD ghi các phim kinh điển trên thế giới để giảng dạy). Đề nghị này hiện chưa được chấp nhận.
Tác phẩm và hoạt động của Lê Lâm cho thấy ở ông một tấm lòng, một tình yêu, một tâm hồn Việt Nam./.

* * *
NTN

 

Nguồn: facebook Cong Binh

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: