Tư liệu hồ sơ (Dossiers d'archives)

Tự truyện của lính thợ Lại Huy Khoa – phần 10

Được sự đồng ý của những người con người lính thợ Đông Dương Lại Huy Khoa, chúng tôi sẽ đăng tải tự truyện của ông.

Ông Lại Huy Khoa sinh năm 1917, sang Pháp năm 1940. Sau khi trải qua những ngày tháng gian khổ trong các xưởng sản xuất thuốc súng, làm than, chặt củi…vv ông đã ra ngoài làm công nhân trên tàu thủy. Sống ở đất Pháp, bên cạnh người bạn gái và có một đứa con trai nhưng ông vẫn luôn nghĩ về gia đình, nghĩ về quê hương. Năm 1953, ông đã quyết định về nước.

Vì những lý do cá nhân mà trong cuốn tự truyện này (được viết năm 1960), ông đã không nói rõ bất kỳ một thông tin nào về những ngày tháng sống trên đất Pháp, đặc biệt là quãng thời gian làm công nhân trên tàu biển.

Mãi sau ngày ông mất (1973) người thân trong gia đình ông mới tìm thấy bản thảo của cuốn tự truyện này và họ đã muốn tìm lại người bạn gái của ông cũng như người con trai của ông.

***************************

20130915_131919_5

Tôi cũng tưởng cuộc đời của tôi sẽ kéo dài như thế mãi, hết bến này đến bến khác, hết sứ này đến sứ khác. Trải qua bao cơn bão gió, đã viết biết bao nhiêu thư về nhà thăm gia đình bố mẹ, anh em mà không có tin trở lại.

Năm 1953 thì may mắn một lá thư của tôi gửi một Hải cảng ở Thái Bình Dương đã đến tay bố tôi lúc bấy giờ là đầu năm 1953 với địa chỉ của tôi ở Marseille. Vì đến Marseille đã thấy 1 lá thư chờ sẵn ở nhà của bố tôi. Đọc xong lá thư tôi biết bố mẹ các em và họ hàng của tôi còn đầy đủ cả.

Tôi muốn về thăm Tổ quốc, thăm gia đình. Ý định đó lúc nào cũng luẩn quẩn trong tâm óc tôi.

Về Việt Nam thăm đất nước sau 14 năm xa cách với 36 tuổi trên đầu. Soi gương rồi nhìn lại tấm ảnh chụp lúc mới bắt đầu bước chân lên đất Pháp, tôi thấy tôi khác hẳn, xưa từ một cậu học trò mới rời bỏ ghế nhà trường với bao nhiêu hy vọng mong muốn, nay thành 1 một anh thủy thủ dạn sóng gió với nước da đen sạm và vài nét răn trên trán.

7 năm đầu ở trong nước Pháp, tôi đã lần lượt đi từ nam đến bắc và từ tây sang đông. Tôi đã lần lượt làm công việc của người thư ký và kế toán, của người trồng nho, hái nho, làm rượu, của người đốn củi làm than, của người kháng chiến, lấy lý tưởng đánh đổ chế độ độc tài phát xít xâm chiếm làm mục đích.

7 năm sau, lênh đênh trên mặt nước từ nghề phụ bếp đến nghề làm khách sạn, hiểu cách nấu nướng chế biến đến sự tiếp đãi khách ăn, tôi đã lần lượt đi hầu hết các bến ở các biển: Địa Trung Hải, …Thái Bình Dương và Đại Tây Dương.

Ôn qua lại quãng đời đó, ý nghĩ về Thái Bình Dương, ngược lên phía bắc để thăm Việt Nam, thăm nhà và nhất là thăm bà mẹ thân yêu của tôi lại sôi nổi trong đầu óc tôi. Làm thế nào mà về trong lúc tình trạng chiến tranh ở Việt Nam chưa chấm dứt. Người Việt làm thủy thủ ở một chiếc tàu Đế quốc đang chiến tranh với nước mình là một sự khó.

Tôi đang tìm cách và đường lối về thì một sự tình cờ may mắn nữa đưa lại cho tôi : lão quan tư ở chiếc tàu chạy Đại Tây Dương mà tôi đã làm trong năm trước nay đã chuyển sang coi một chiếc tàu khác chạy đường Thái Bình Dương và tàu này lại tiến lên phía bắc, sang cả Hồng Kông và Nhật Bản. Tôi lần mò tìm xuống chiếc tàu đó, và sau khi tỏ ý muốn của tôi với lão quan tư tàu tôi được sự hứa hẹn của lão ta.

Tôi bắt đầu có hy vọng về thăm nhà, 3 tháng sau trong khi tôi còn đang ở một bến cảng thì nhận được điện báo cho tôi biết rằng khi tàu về tới Marseille thì tôi sẽ được chuyển sang chiếc tàu đi Nhật.

Tôi mừng quá và về tới Marseille, tôi giấu hết cả bạn bè thân thuộc cái tin mới này (vì cảnh giác cũng có, và có thể chính quyển hoặc thuộc địa hoặc địa phương không cho đi). Mấy giờ trước khi tàu chạy tôi xuống tàu với một bọc quần áo nhẹ tênh nhưng trong đầu óc nặng bao nhiêu ý nghĩ phức tạp khó tả…

Tàu nhổ neo, tàu vẫn chạy theo con đường ấy, với những bến quen thuộc nhưng tôi cảm thấy có cái gì mới trong tâm hồn tôi. Trong 1 tháng trời, 1 mình tôi là người Việt làm trong một chiếc tàu vừa trở hàng hóa vừa trở binh lính Pháp sang Việt Nam, tôi thường xuyên đụng chạm với tụi này và mong manh đã hơi biết tình hình kháng chiến của ta ở miền Bắc.

Tôi không thể tả được nỗi lòng của tôi khi tàu cập bến Sài Gòn, Sáu kho –Hải Phòng.

Vẫn bến đó, dòng sông đó, cột nhà máy xi măng, cầu quay, chưa có gì thay đổi mấy. Tàu chỉ đỗ lại bến có mấy ngày để dỡ hàng rồi lại nhổ neo luôn.

Tôi xin phép nghỉ ba ngày về thăm nhà và vừa đúng vào ngày 15/8 âm lịch (Trung thu). Tết Trung thu với những cái bánh nướng, bánh dẻo đặc biệt của nước nhà mà đã 14 năm qua tôi quên mất mùi vị, nay lại làm cho tôi thêm yêu Tổ quốc, thiết tha với Tổ quốc. Những hình ảnh cũ lại lần lượt diễn ra trong trí nhớ của tôi như một cuốn phim.

Về tới nhà tôi được biết : Sau khi tôi bỏ nhà ra đi, mẹ tôi đã xin đổi về Đồ Sơn, em trai lớn tôi trước kháng chiến đã được bổ đi dạy học và em trai thứ nhì làm thư ký Kho bạc. 2 cái ngành mà trong gia đình tôi đã có người làm cả rồi, con đường đã vạch sẵn…Còn các em gái tôi thì cô đi buôn, cô ở nhà.

Gia đình tôi cũng tản cư từ năm 1946, bố mẹ tôi và chú em trai lớn của tôi hồi cư năm 1952 và hiện được tiếp tục dạy học tại Quảng Yên còn chú em thứ hai thì không chịu về và hiện đang tại ngũ trong Quân đội kháng chiến.

Thời gian 3 ngày trôi rất chóng, tôi lại phải xuống tàu. Tôi ra đi lần này trước những giọt nước mắt tràn lên gò má răn reo của mẹ tôi. Tôi hứa hẹn 3 tháng sau lại trờ về…

Tàu nhổ neo chạy mang theo phần xác tôi nhưng tâm hồn tôi còn ở lại với những cây lúa đã nặng trĩu, những bông thóc sắp tới ngày gặt, những dãy sắn và vườn mía thẳng tắp mà otô đã vừa dẫn tôi đi qua.

Sau hơn 1 tháng tàu chạy hết bến này đến bến khác (mà chuyến này tôi cũng chỉ ít khi lên bờ) tôi lại về tới Marseille

Nghi 15 hôm để sửa chữa máy móc trong tàu và nghỉ ngơi, tôi thấy căn nhà của tôi ở Marseille nó buồn tẻ làm sao, tôi mang so sánh với Quảng Yên:

– Cái lò sưởi điện không làm đủ ấm tâm hồn tôi.

– Cái máy thu thanh phát ra những tiếng hát ru dương với những điệu âm thanh nhịp nhàng lại càng làm cho tôi thêm nhớ điệu hát trống quân và tiếng trống sư tử.

– Vào rạp chớp bóng tôi thấy hình ảnh của phần cải lương “Hằng nga du nguyệt điệu” (mà bố tôi đã dẫn tôi đi xem tối hôm trước ngày tôi xuống tàu ở Quảng Yên) hiện ra trong trí óc tôi lấn át cả cuốn phim đang diễn ra trên màn ảnh trước mắt. Tôi chẳng biết tôi xem những gì…

– Tôi thấy miếng bánh mì, miếng bít tết, cốc rượu vang không thể nào ngon bằng bát cơm vừa mới xới trong nồi ra, hơi bốc lên nghi ngút, những khúc cá trê nấu với dưa chua và hương vị đặc biệt của mùi nước mắm.

–  Tôi cảm thấy tôi đổi khác mà người đầu tiên nhận thấy sự thay đổi của tôi là người bạn gái và con chó pikienois (đặc nòi) nhỏ bé mà tôi đã nuôi.

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

%d người thích bài này: