Tư liệu hồ sơ (Dossiers d'archives)

Tự truyện của lính thợ Lại Huy Khoa – phần 6

Được sự đồng ý của những người con người lính thợ Đông Dương Lại Huy Khoa, chúng tôi sẽ đăng tải tự truyện của ông.

Ông Lại Huy Khoa sinh năm 1917, sang Pháp năm 1940. Sau khi trải qua những ngày tháng gian khổ trong các xưởng sản xuất thuốc súng, làm than, chặt củi…vv ông đã ra ngoài làm công nhân trên tàu thủy. Sống ở đất Pháp, bên cạnh người bạn gái và có một đứa con trai nhưng ông vẫn luôn nghĩ về gia đình, nghĩ về quê hương. Năm 1953, ông đã quyết định về nước.

Vì những lý do cá nhân mà trong cuốn tự truyện này (được viết năm 1960), ông đã không nói rõ bất kỳ một thông tin nào về những ngày tháng sống trên đất Pháp, đặc biệt là quãng thời gian làm công nhân trên tàu biển.

Mãi sau ngày ông mất (1973) người thân trong gia đình ông mới tìm thấy bản thảo của cuốn tự truyện này và họ đã muốn tìm lại người bạn gái của ông cũng như người con trai của ông.

***************************

992621_240275122790518_1559457993_n

Lần này thì thật là tạm biệt Tổ quốc. Sau hơn 20 ngày qua bể “Đỏ” kênh đào, Địa Trung Hải chúng tôi cập bến Marseille vào 1 buổi tối mùa đông rét lạnh. Sáng sớm hôm sau chúng tôi lên bờ dưới làn mưa tuyết mỏng và được dẫn tới ở trong trại tập trung riêng của người Việt. Ở đây đã có rất nhiều anh em đến trước chúng tôi và đang chờ để điều động đi nơi khác. Các anh em đến trước chúng tôi trên 3000 người và quá 1 nửa đã được chuyển đi các nhà máy hay xưởng chế tạo thuốc súng rồi.

Còn về phần chúng tôi, người ta sắp xếp chúng tôi thành từng đơn vị từ 150 đến 200 người. Tập trung tại Marseille  vào khoảng hơn 3 tuần lễ, đơn vị của chúng tôi gồm có 200 được chỉ định đi làm tại xưởng làm thuốc súng ở Bayouni, một tỉnh ở phía Tây-nam nước Pháp giáp biên giới nước I pha nho.

Ở đây chúng tôi được ở riêng 1 chỗ trong 1 xưởng làm gạch cũ cách sở thuốc súng độ gần 1 cây số cách thành phố cũng không xa, đường đi tàu điện rất tiện. Chúng tôi chia kíp ra làm 3/8, mỗi kíp làm 8 tiếng, như thế làm đảm bảo sản xuất suốt ngày đêm.

Công việc làm thuốc súng tuy điều khiển bằng máy nhưng rất có hại cho sức khỏe. Ví dụ những chất hóa học như diêm sinh vẫn ăn vào da vào người, không khí nặng và đầy thán khí. Anh em lính thợ chia ra từng tốp, mỗi tốp 30 người và một người là cai Thông ngôn. Riêng về phần tôi được coi là trội hơn cả về Pháp văn nên ngay từ lúc đầu người ta lấy tôi vào làm thư ký đánh máy và phụ kế toán ngay ở đơn vị không phải đến xưởng. Công việc của chúng tôi làm đều đặn, bình thường, hết giờ làm có thể ra phố chơi bời mua bán dễ dãi, cho đến tháng 6/1940, tính ra làm việc ở xưởng được gần 7 tháng thì Pháp thua trận, quân Pháp xít độc tài Đức chiếm Thủ Đô Paris trong 24 tiếng đồng hồ và tướng Pháp đứng lên đầu hàng vô điều kiện. Nước Pháp sau khi hàng Đức thì bị cắt làm 2 ranh giới, toàn phía bắc nước Pháp dọc bờ biển Đại Tây Dương bị quân Đức chiếm đóng. Chúng tôi ở vào vị trí đó nên 1 tháng sau lại phải điều về Marseille  xây tập trung tại mấy trại mà lúc đầu chúng tôi mới ở Việt Nam sang ở đó. Hầu hết các đơn vị ở rải rác các nơi cũng lần lượt về đấy cả. Số người Việt càng ngày càng đông và Pháp lúc bấy giờ không có đủ tàu chạy biển nữa để hồi hương chúng tôi. Đến đây, tôi kể rõ thêm là trong lúc bị quân Đức chiếm đóng và lúc bấy giờ tất cả các căn cứ quân sự và tỉnh to đều bị bọn phát xít Đức chiếm cả. Dân sự thiếu thốn, từ miếng bánh mì, lạng thịt, cân rau đều hạn chế cả. Mỗi một người Pháp đều phải có một phiếu thực phẩm để mua thức ăn. Đến ngay cả thuốc lá cũng chỉ mỗi người có gần 2 lạng để hút trong tháng, mà người Pháp cả nam giới đến nữ giới có đến 99% nghiện thuốc lá. Sự ăn uống rất hiếm và phần đông bị túng, đói nên lúc bấy giờ “chợ đen” phát triển 1 cách nhanh chóng lạ thường. Có thuốc lá thì mua cái gì cũng được. bánh mì, thịt, cá,… bán chợ đen với giá cao gấp mười gấp trăm giá thường, những đầu phố, ngã tư đường, trong tiệm giải khát chỗ nào cũng là chợ đen. Chợ đen lúc bấy giờ hình như công khai và mọi tầng lớp nhân dân trong sự sinh hoạt đều qua đó cả. Người Việt ta cũng vậy, cũng qua quãng đường đó để kiếm thêm.

Tình cảnh thiếu thốn của Pháp như vậy mà số anh em lính thợ tập trung lại thì đông mà trong lúc không có tiền để hồi hương, chính phủ Pháp tính đến chuyện cho chúng tôi đi làm để nâng cao thêm 1 ít nền kinh tế.

Thế là chúng tôi lại tản mát đi các nơi về các tỉnh, các làng, đơn vị thì hái nho, đơn vị thì làm ruộng. Riêng về đơn vị chúng tôi thì được phân công lên rừng đốn củi rồi đốt để làm than. Than này để chạy thay cho ít xăng vì nguyên liệu này quân đội Đức chiếm đóng lấy hết cả. Trong ngành giao thông vận tải của Pháp bấy giờ hơi than củi là nguyên liệu cần thiết đứng vào hàng đầu.

Chúng tôi cứ làm công việc đó hết tỉnh này đến tỉnh khác, hết làng này sang làng khác. Ở về phía Nam nước Pháp là nơi có nhiều rừng cây làm than hơn cả, cho đến năm 1942 tình hình thế giới đã chuyển biến, phía đông quân đội Liên Xô đã tấn công thắng lợi, phía tây quân đồng minh cũng đã dồn quân phát xít vào tình thế nao núng. Những trận bom dội lên căn cứ quân sự của quân Đức đóng làm cho phong trào kháng chiến của Pháp nổi bùng và lan rộng rất mau chóng. Khắp mọi nơi đều có tổ chức kháng chiến cả. Thế là một buổi tối vào cuối tháng Giêng năm 1943 sau khi đã được giới thiệu và liên lạc với một đơn vị kháng chiến của Pháp, tôi bỏ đơn vị của tôi đang đẵn củi làm than đến cùng với những người kháng chiến Pháp ở trong rừng rất xa làng xóm, gặp đâu ngủ đấy, lấy ngày làm đêm và lấy đêm làm ngày.

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

%d người thích bài này: