Tư liệu hồ sơ (Dossiers d'archives)

Tự truyện của lính thợ Lại Huy Khoa – phần 5

Được sự đồng ý của những người con người lính thợ Đông Dương Lại Huy Khoa, chúng tôi sẽ đăng tải tự truyện của ông.

Ông Lại Huy Khoa sinh năm 1917, sang Pháp năm 1940. Sau khi trải qua những ngày tháng gian khổ trong các xưởng sản xuất thuốc súng, làm than, chặt củi…vv ông đã ra ngoài làm công nhân trên tàu thủy. Sống ở đất Pháp, bên cạnh người bạn gái và có một đứa con trai nhưng ông vẫn luôn nghĩ về gia đình, nghĩ về quê hương. Năm 1953, ông đã quyết định về nước.

Vì những lý do cá nhân mà trong cuốn tự truyện này (được viết năm 1960), ông đã không nói rõ bất kỳ một thông tin nào về những ngày tháng sống trên đất Pháp, đặc biệt là quãng thời gian làm công nhân trên tàu biển.

Mãi sau ngày ông mất (1973) người thân trong gia đình ông mới tìm thấy bản thảo của cuốn tự truyện này và họ đã muốn tìm lại người bạn gái của ông cũng như người con trai của ông.

***************************

20130915_131919_5

Ở trong trại Hà Đông trong mấy ngày tôi nhận 2 bộ quần áo và 1 chiếc chiếu mà người ta phát cho tôi để chờ ngày xuống Hải Phòng. Sau 1 tuần lễ, tôi được trở với hơn 300 người xuống tập trung tại ngay bến sáu kho ở trong những lều vải mới căng,  chung quanh có giấy thép gai chăng làm hàng rào.

Ở đây, số người tập trung rất đông và sau này tôi mới biết là đợt của chúng tôi đi kỳ này là đợt thứ III và số người đi cùng với tôi là trên 2000 người.

Một buổi chiều hạ tuần tháng 9/1939 (tôi không nhớ rõ ngày) sau bữa cơm chiều, người ta chia chúng tôi (hơn 1000 người) thành từng đơn vị và từng nhóm 25 người. Đứng đầu nhóm 25 người là 1 người thông ngôn đeo băng vàng đỏ ở cánh tay để phân biệt. Người ta bắt đầu cho chúng tôi xuống tàu với 1 cái túi dết trên vai và 1 chiếc chiếu con để nằm. Chúng tôi chiếm hết 3 cales (hầm để hàng) và công việc sắp xếp ổn định chỗ nằm, ngồi mất hết cả đêm. 5h sáng hôm sau vừa nom rõ hình người, tàu bắt đầu rời bến Sáu kho sau mấy chuỗi giây thừng tạm cố của 2 chiếc …(tàu dắt).

Đây tôi lại nói trong thời gian tập trung ở Hải Phòng, vì là Thông ngôn tôi được ra vào dễ dãi hơn các anh em lính khác. Những khi ra phố tôi đều tìm cách tránh hết cả những người quen thuộc mà trước đây 2 năm tôi đã ở trong thành phố 5 năm. Cả đến nhà của chú cô tôi tôi cũng không đến.

Nhưng khi biết sắp sửa phải xuống tàu, vào 1 buổi tối tôi rủ thêm 2 người bạn cũng là Thông ngôn như tôi đến nhà chú cô tôi chơi. Lúc bấy giờ tôi mới nói cho chú cô tôi biết là tôi đã vào làm Thông ngôn cho anh em lính thợ (ONS) và chỉ nay mai là chúng tôi xuống tàu và tôi nhờ chú cô tôi viết thư báo cho bố mẹ tôi ở Vĩnh Yên biết.

Tàu khi đã được ra giữa dòng sông “cấm” thì bắt đầu nổ máy. Cuộc đời phiêu lưu của tôi bắt đầu theo tiếng máy nổ ình ình và tiếng nước réo sau chiếc số vịt. Năm 1939, tôi 22 tuổi và là con lớn nhất của bố mẹ tôi, tôi có 6 người em, 2 trai và 4 gái. Em trai thứ nhất 13 tuổi học lớp nhất Vĩnh Yên, em trai thứ nhì 10 tuổi học lớp 3 Vĩnh Yên.

Em gái thứ nhất 19 tuổi ở nhà (vì là con gái lớn)

Em gái thứ nhì 16 tuổi ở nhà sau khi học hết lớp nhất.

Còn 2 em gái bé nữa (còn nhỏ) thì chưa cắp sách đi học.

Một giờ sau khi tàu nhổ neo, chúng tôi đã ra tới cửa bể Đồ Sơn, nhìn 1 lần nữa vào đất liền, hòn núi độc mở đầu cho mấy bãi cát dài và hàng rặng phi lao che cho những mấy dãy nhà nghỉ mát khi ẩn khi hiện làm cho tôi xúc động, tôi thấy nao nao trong lòng nửa như nhớ quê hương Tổ quốc, nửa như say với thú phiêu lưu. Tôi thấy trong người hơi khó chịu vì tàu đã ra khơi và đã bắt đầu chòng chành theo tiếng máy nổ mạnh và chiếc số vịt quay hết tốc độ.

Sóng đã bắt đầu to và tôi thấy người lảo đảo, tôi say sóng, phải bỏ chỗ đứng trên boong và xuống hầm trèo lên giường nằm ngủ. Giường của chúng tôi đóng bằng gỗ thành từng tầng theo chiều cao của cái cali ( hầm), bề cao vừa đúng 2,5m, chúng tôi 3 người, mỗi người 1 tầng, người nọ ở trên người kia.

Sau 6 ngày lênh đênh trên mặt biển Thái Bình Dương, khi ngoài khơi, khi gần bờ biển Trung kỳ, ngày 2 buổi vác gà men xuống bếp lấy cơm ăn. Chúng tôi đến cửa Ô cấp và bắt đầu đi ngược dòng sông để vào bến Sài Gòn. Cập bến Sài Gòn chúng tôi bị xua lên bờ và dẫn như 1 đàn bò vào 1 trại lính Tây (tôi không nhớ rõ tên). Chúng tôi hơn 2000 người ở trong 3 căn nhà ngói với những hàng giường gỗ đóng liền với nhau thành hai dãy dài. Ở đây gần 2 tuần lễ, chúng tôi ít khi được phép ra ngoài phố, chúng tôi lại được đưa xuống tàu.

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

%d người thích bài này: